Tăng Kim Hồng, Nguyễn Hoàng Hạnh Đoan Trang và Michael J. Dibley
Đặt vấn đề: Nghiên cứu này được tiến hành nhằm đánh giá mối tương quan giữa chu vi vòng eo (WC), tỷ lệ eo-hông (WHR), tỷ lệ eo-chiều cao (WHtR), độ dày nếp gấp da cơ tam đầu (TSFT) và độ dày nếp gấp da dưới vai (SSFT) với chỉ số khối cơ thể (BMI) khi theo dõi và xác định các thông số nhân trắc học chiếm tỷ lệ biến thiên BMI cao nhất ở học sinh trung học cơ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Đây là một nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu kéo dài 5 năm; 761 sinh viên được theo dõi hàng năm. Dữ liệu thu thập bao gồm chiều cao, cân nặng, WC, TSFT và SSFT. Hệ số tương quan Pearson được tính toán để nghiên cứu mối tương quan giữa các thông số nhân trắc học ban đầu với BMI tại thời điểm theo dõi. Các mô hình hiệu ứng hỗn hợp đa cấp với phân tích hồi quy tuyến tính và hồi quy Poisson được sử dụng để đánh giá mối quan hệ giữa tất cả các biến được liệt kê với sự thay đổi BMI cũng như nguy cơ thừa cân/béo phì.
Kết quả: BMI, WC, TSFT, SSFT, WHtR, tổng độ dày bốn nếp gấp da và % mỡ cơ thể lúc ban đầu đều có mối tương quan mạnh với BMI khi theo dõi (p < 0,001). Trong số các mô hình hồi quy đa biến, các mô hình có WC hoặc WHtR chiếm tỷ lệ biến thiên cao nhất đối với sự thay đổi của chỉ số BMI (khoảng 74,5%) (p < 0,001), trong khi mô hình có WHR chỉ giải thích được 22,7% sự biến thiên trong thay đổi BMI.
Kết luận: WC là một chỉ số nhân trắc học đơn giản, có thể dễ dàng sử dụng để đánh giá tình trạng béo phì và có liên quan đáng kể đến sự thay đổi BMI theo thời gian.
Từ khóa: thanh thiếu niên; béo phì; độ dày nếp gấp da; chu vi vòng eo; tỷ lệ vòng eo/chiều cao
Waist circumference and waist-to-height ratio are better predictors of body mass index changes in adolescents in Ho Chi Minh City
Hong K.Tang, Trang H.H. Nguyen, and Michael J. Dibley
Background: This study was conducted to assess the correlation between baseline waist circumference (WC), waist-to-hip ratio (WHR), waist-to-height ratio (WHtR), triceps skinfold thickness (TSFT) and subscapular skin- fold thickness (SSFT) with body mass index (BMI) at follow-up and to identify the anthropometric parameters accounting for the highest proportion of the BMI variation among junior high school students in Ho Chi Minh City.
Methods: This was a 5-y prospective cohort study; 761 students were followed annually. Data collected included height, weight, WC, TSFT and SSFT. Pearson correlation coefficients were calculated to investigate the correlations between baseline anthropometric parameters with BMI at follow-up. Multilevel mixed-effect models with linear regression analyses and Poisson regression were used to assess the relationship between all listed variables with BMI changes as well as the risk of being overweight/obesity.
Results: BMI, WC, TSFT, SSFT, WHtR, the sum of four skinfold thicknesses and % body fat at baseline were all strongly correlated with BMI at follow-up (p<0.001). Among multiple linear regression models, the models with WC or WHtR accounted for the highest variation in BMI changes (approximately 74.5%) (p<0.001), while the model with WHR explained only 22.7% of the variation in BMI changes.
Conclusion: WC is a simple anthropometric indicator, which can be easily used to assess adiposity and is signif- icantly associated with BMI changes over time.
Keywords: adolescents, obesity, skinfold thickness, waist circumference, waist-to-height ratio
Source: Hong K Tang, Trang H H Nguyen, Michael J Dibley, Waist circumference and waist-to-height ratio are better predictors of body mass index changes in adolescents in Ho Chi Minh City, Transactions of The Royal Society of Tropical Medicine and Hygiene, 2025; traf049, https://doi.org/10.1093/trstmh/traf049