Tăng Kim Hồng, Nguyễn Ngọc Minh và Michael J. Dibley
Tóm tắt
Đặt vấn đề: Tuổi vị thành niên là giai đoạn mà các kiểu ăn uống và lượng dinh dưỡng có thể ảnh hưởng mạnh đến tình trạng béo phì ở người trưởng thành. Nghiên cứu này đánh giá việc theo dõi lượng năng lượng và chất dinh dưỡng của thanh thiếu niên TP.HCM trong 5 năm, cũng như mối liên hệ giữa năng lượng và tỉ lệ năng lượng từ chất đa lượng với chỉ số BMI.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Chiều cao, cân nặng, thời gian vận động thể chất, thời gian trước màn hình và khẩu phần ăn được thu thập hàng năm từ 2004 đến 2009 đối với 752 học sinh THCS (tuổi trung bình 11,87 tại thời điểm ban đầu). Việc theo dõi được đánh giá bằng hệ số tương quan và thống kê kappa có trọng số (k) cho các phép đo lặp lại. Mô hình hiệu ứng hỗn hợp được sử dụng để phân tích mối liên hệ giữa năng lượng và tỉ lệ năng lượng từ chất đa lượng với BMI.
Kết quả: BMI trung bình tăng hàng năm, và tăng nhiều hơn ở nam so với nữ. Hệ số tương quan (0,2 < r < 0,4) giữa lượng ăn lúc đầu và sau 5 năm cho thấy khả năng theo dõi mức trung bình. Giá trị kappa mở rộng thấp nhất cho năng lượng từ carbohydrate (CHO) ở cả nam và nữ (k=0,18 và 0,24), và cao nhất cho protein ở nữ (k=0,47) và chất béo ở nam (k=0,48). Mô hình đa biến cho thấy các biến có liên hệ đáng kể với BMI gồm: CHO, chất béo, phần trăm năng lượng từ CHO và chất béo, thời gian vận động thể chất vừa đến mạnh, thời gian trước màn hình, tuổi và giới tính.
Kết luận: Việc theo dõi từ yếu đến trung bình quan sát được trong đoàn hệ này cho thấy mô hình ăn uống cá nhân ở năm đầu tiên khó có thể dự đoán được lượng năng lượng và dinh dưỡng trong năm thứ năm.
Energy intakes, macronutrient intakes and the percentages of energy from macronutrients with adolescent BMI: results from a 5-year cohort study in Ho Chi Minh City, Vietnam
Hong K. Tang, Ngoc-Minh Nguyen and Michael J. Dibley
Abstract
Background: Adolescence is a period of life when dietary patterns and nutrient intakes may greatly influence adult fatness. This study assesses the tracking of energy and nutrient intakes of Ho Chi Minh City adolescents over 5 years. It explores the possible relationships between energy and the percentage of energy from macronutrients with BMI.
Methods: Height, weight, time spent on physical activity, screen time and dietary intakes were collected annually between 2004 and 2009 among 752 junior high school students with a mean age of 11·87 years at baseline. The tracking was investigated using correlation coefficients and weighted kappa statistics (k) for repeated measurements. Mixed effect models were used to investigate the association between energy intakes and percentage energy from macronutrients with BMI.
Results: There were increases in the mean BMI annually, but greater in boys than in girls. Correlation coefficients (0·2 < r <0·4) between participants’ intakes at baseline and 5-year follow-up suggest moderate tracking. Extended kappa values were lowest for energy from carbohydrate (CHO) in both girls and boys (k=0·18 & 0·24, respectively), and highest for protein in girls (k=0·47) and fat in boys (k=0·48). The multilevel models showed the following variables significantly correlated with BMI: CHO, fat, percentage of energy from CHO, fat, time spent for moderate to vigorous physical activity, screen time, age and sex.
Conclusions: The poor to fair tracking observed in this cohort suggests that individual dietary patterns exhibited in the first year are unlikely to predict energy and nutrient intakes in the fifth year.
Source: Tang, H.K., Nguyen, N.-M. and Dibley, M.J. (2023), Energy intakes, macronutrient intakes and the percentages of energy from macronutrients with adolescent BMI: results from a 5-year cohort study in Ho Chi Minh City, Vietnam, British Journal of Nutrition, 130(2), pp. 323–330.
doi:10.1017/S0007114522003294.
Full test: https://doi.org/10.1017/S0007114522003294